Cổng thông tin điện tử Kiên Giang

Hoạt động của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh

Xem với cỡ chữAA

Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ huyện Kiên Hải, nhiệm kỳ 2015-2020

(01:46 | 28/05/2018)

THÔNG BÁO
KẾT LUẬN CỦA BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY 
về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ
huyện Kiên Hải, nhiệm kỳ 2015-2020
______

Ngày 04-5-2018, Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm việc với Ban Thường vụ Huyện ủy Kiên Hải theo quy chế. Sau khi nghe Ban Thường vụ Huyện ủy Kiên Hải báo cáo về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ huyện và qua các ý kiến thảo luận tại cuộc họp, Ban Thường vụ Tỉnh ủy kết luận như sau:
I- Về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ
Kiên Hải là huyện đảo, có nhiều tiềm năng lợi thế về kinh tế biển, đặc biệt là khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản; đồng thời có điều kiện phát triển dịch vụ, du lịch, vận tải biển. Thời gian qua, Đảng bộ và nhân dân huyện Kiên Hải đã nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VIII đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực, đóng góp tích cực vào kết quả chung của Đảng bộ tỉnh.
Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được quan tâm thực hiện, nhất là việc cụ thể hóa, triển khai, quán triệt thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy và của Đảng bộ huyện bước đầu đạt được những kết quả quan trọng. Các khâu trong công tác cán bộ được quan tâm thực hiện; tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm đạt 93,35%, tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh hằng năm đạt từ 95,03% trở lên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên. Hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị từ huyện đến xã tiếp tục được củng cố kiện toàn, nâng lên hiệu quả hoạt động. 
Kinh tế tiếp tục phát triển và tăng trưởng khá. Tổng giá trị sản xuất tăng 41% so với đầu nhiệm kỳ, tăng bình quân hằng năm 12,18%/năm. Một số lĩnh vực có tiềm năng lợi thế như: Kinh tế biển, du lịch được tập trung đầu tư khai thác, phát huy tốt hơn; khách du lịch đến tham quan du lịch đạt 350.967 lượt khách. Huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 1.826,6 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách đạt 41 tỷ đồng, tăng 1,5 lần so đầu nhiệm kỳ. Nhiều công trình dự án đưa vào khai thác sử dụng có hiệu quả, như: Đường quanh đảo Hòn Ngang (Nam Du), hồ nước ngọt, tuyến kè biển (Lại Sơn),...  kết cấu hạ tầng từng bước được hoàn thiện, đã có 02/04 xã sử dụng điện lưới Quốc gia (xã Hòn Tre, Lại Sơn). 
Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, đến nay tỷ lệ hộ nghèo còn 0,4%. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền biển đảo quốc gia.
Những kết quả đạt được của Kiên Hải có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy Kiên Hải phát triển nhanh, bền vững và đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của tỉnh.
Tuy nhiên, hoạt động hệ thống chính trị có nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp còn hụt hẫng, hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Công tác quản lý, điều hành của chính quyền trên một số mặt còn hạn chế; quản lý quy hoạch, xây dựng, dân cư, môi trường, từng lúc chưa thật chặt chẽ. Tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng thiếu tính bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, quy mô kinh tế còn nhỏ, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế. Huy động nguồn lực xây dựng các tiêu chí nông thôn mới thực hiện còn chậm (đến nay chưa có xã đạt tiêu chí xã nông thôn mới). Lĩnh vực văn hóa-xã hội còn nhiều hạn chế, khó khăn về giáo dục, y tế chưa được tháo gỡ cơ bản. Phạm pháp hình sự, tệ nạn xã hội, ma túy, an ninh trên biển, từng lúc còn diễn phức tạp; ngư dân khai thác vi phạm vùng biển nước ngoài vẫn còn xảy ra. 
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là: Năng lực lãnh đạo, điều hành của các cấp ủy đảng, chính quyền còn hạn chế; năng lực cụ thể hóa, triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết còn chậm, thiếu quyết liệt; công tác kiểm tra, đôn đốc, chấn chỉnh những khó khăn, vướng mắc chưa thường xuyên. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa chặt chẽ nên hiệu quả chưa cao. Trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu.  
II- Về phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới
Thời gian tới, bên cạnh thuận lợi, dân, quân huyện Kiên Hải vẫn còn đối mặt với những khó khăn, thách thức, trong đó đáng chú ý là tình hình thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp, giao thông đi lại giữa các đảo và đất liền còn khó khăn; điện, nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân chưa đáp ứng yêu cầu, quy mô, năng lực đầu tư còn hạn chế; tình hình an ninh trật tự trên đảo và vùng biển từng lúc diễn biến phức tạp. Để Đảng bộ, chính quyền, dân và quân huyện Kiên Hải tiếp tục phấn đấu cao hơn, phát huy những thành tích, kết quả đạt được, tranh thủ thời cơ, đẩy nhanh quá trình xây dựng, phát triển, huyện cần xác định được định hướng và tập trung chỉ đạo một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
1. Định hướng chung 
Từ nay đến cuối năm 2018 và những năm tới, huyện phải bám sát Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng bộ huyện, Nghị quyết Đại hội X của tỉnh, các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, khai thác và phát huy tối đa tiềm năng lợi thế để đảm bảo sự phát triển hài hòa, bền vững cho từng xã đảo, quần đảo. Tập trung chỉ đạo bảo vệ ngư trường, khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản; tăng cường công tác xúc tiến đầu tư về cảng biển, du lịch, vận tải biển, điện, đặc biệt là các xã chưa có điện lưới Quốc gia (Nam Du và An Sơn); cố gắng giữ và tăng độ che phủ của rừng ở từng đảo, giữ gìn môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, nhất là đảm bảo nước sinh hoạt cho nhân dân các đảo. Trong đầu tư phát triển kinh tế của từng đảo phải kết hợp chặt chẽ với quốc phòng-an ninh, bảo vệ biển, đảo. Tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc, chăm lo tốt đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, giảm nghèo bền vững. 
2. Nhiệm vụ cụ thể
- Về công tác xây dựng Đảng, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức đảng, tiếp tục thực hiện tốt các chủ trương của Trung ương, của Tỉnh ủy về công tác xây dựng Đảng, thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, khóa XII “về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, khóa XII “về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”. Nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ đảng viên và nhân dân; quan tâm thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phát triển đảng; thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện chấn chỉnh, ngăn ngừa cán bộ sai phạm. Tiếp tục nâng lên hiệu quả hoạt động của công tác dân vận, mặt trận và các đoàn thể theo hướng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tham gia tích cực hơn nữa trong xử lý các vấn đề bức xúc của nhân dân. Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp theo hướng sâu sát cơ sở; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính. Chú ý tăng cường đoàn kết nội bộ, thực hiện tốt quy chế làm việc, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ, trách nhiệm cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tình hình mới. 
- Về phát triển kinh tế, bám sát quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của huyện đến năm 2020; phối hợp với các sở, ngành rà soát, xây dựng mới các quy hoạch, nhất là quy hoạch về không gian của huyện, đồng thời thực hiện tốt các Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế biển (du lịch, dịch vụ du lịch, đánh bắt nuôi trồng thủy sản). Tranh thủ sự quan tâm, hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội (hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội); điện lưới quốc gia ra quần đảo Nam Du, hệ thống giao thông bộ, đường vòng quanh đảo có trung tâm xã, cảng thủy nội địa,... gắn với thực hiện tốt chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; xây dựng nhà máy xử lý rác, nhà máy cấp nước, bảo vệ môi trường,... theo quy hoạch được duyệt. Chú trọng quan tâm hơn nữa xây dựng nông thôn mới. Đẩy mạnh triển khai quy hoạch phát triển du lịch. Trong phát triển du lịch cần định hướng đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tạo ra sản phẩm đặc thù của địa phương; chẳng hạn du lịch homestay, du lịch khám phá, đồng thời kết hợp tour, tuyến du lịch giữa Kiên Hải với các địa phương. Trước mắt khẩn trương thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:
+ Thống nhất chủ trương lập quy hoạch chung đô thị, quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện Kiên Hải gồm thị trấn Hòn Tre và ba xã đảo: An Sơn, Lại Sơn và Nam Du trên cơ sở tầm nhìn kết nối toàn bộ khu vực biển Tây Nam, bao gồm Phú Quốc, Vịnh Rạch Giá và các hệ thống đảo thuộc các huyện, thị như: Hà Tiên-Kiên Lương-Hòn Đất, từ đó hình thành các khu vực phát triển đô thị biển, vùng phát triển du lịch kinh tế biển đồng bộ cùng với sự phát triển của đặc khu Phú Quốc. Theo đó trong quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng cần tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên môi trường, cảnh quan biển đảo, thường xuyên tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân và du khách về bảo vệ môi trường, nhất là phải thay đổi tập quán về chất thải chưa qua xử lý để bảo vệ môi trường biển.
+ Tập trung chỉ đạo bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân trong việc không đánh bắt hải sản qua vùng biển các nước khác. 
+ Thường xuyên kiểm tra, tránh tình trạng xây dựng nhà không phép, trái phép. Quản lý chặt chẽ đất rừng, đất nhà nước quản lý. 
+ Phối hợp với Sở Giao thông vận tải, Cảng vụ Hàng hải Kiên Giang và các ban ngành liên quan kiên quyết bảo đảm an toàn, an ninh cho các phương tiện tàu thuyền, người dân và du khách.
+ Phối hợp với Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn và các sở ngành liên quan quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản để kêu gọi đầu tư nuôi trồng thủy sản.
+ Nghiên cứu, đề xuất phương án di dời Trung tâm Hành chính của huyện về xã Lại Sơn hoặc xã Nam Du. Đồng thời nghiên cứu lấn biển tạo không gian phát triển du lịch, tạo quỹ đất để mở rộng không gian xây dựng trên địa bàn huyện. Phát triển du lịch, đi đôi giữ đất rừng; thực hiện cho thuê môi trường rừng, khai thác loại hình du lịch sinh thái dưới tán rừng theo đúng quy định. 
- Về văn hóa-xã hội, quan tâm đầu tư, tiếp tục cải thiện, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, y tế, giáo dục đào tạo, nâng cao hơn nữa đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân. 
- Về quốc phòng-an ninh, tiếp tục chỉ đạo xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng khu vực phòng thủ huyện đảo đạt hiệu quả, thiết thực trong thế phòng thủ chung của tỉnh; bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Làm tốt nhiệm vụ phòng, chống bão lụt, cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống cháy nổ. Phát triển kinh tế-xã hội kết hợp chặt chẽ với đảm bảo quốc phòng-an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ biển đảo, tăng cường phối hợp với các lực lượng chức năng, các địa phương tuần tra, kiểm soát, xử lý tình huống tranh chấp, vi phạm ngư trường. 
- Chuẩn bị tốt các nội dung sơ kết các chuyên đề, sơ kết giữa nhiệm kỳ Đại hội VIII Đảng bộ huyện. Đảng bộ huyện tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết nội bộ, sự đồng thuận trong nhân dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng bộ huyện. 
III- Đối với các đề xuất, kiến nghị của Ban Thường vụ Huyện ủy Kiên Hải
01. Về chỉ tiêu phát triển đảng viên mới (tỉnh giao cả nhiệm kỳ 350 đảng viên), đến nay huyện mới phát triển được 177 đảng viên và qua rà soát đến cuối nhiệm kỳ đại hội huyện chỉ còn 150 quần chúng dự nguồn phát triển đảng, đề nghị tỉnh xem xét điều chỉnh giảm còn 300 theo nghị quyết đại hội của huyện.
Chỉ tiêu phát triển đảng viên đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh biểu quyết thông qua, việc phân bổ chỉ tiêu phát triển đảng viên mới cho các huyện trên cơ sơ có xem xét cân nhắc cụ thể về điều kiện của từng địa phương. Do đó, đề nghị huyện đề ra các biện pháp tập trung lãnh đạo thực hiện, nhất là rà soát, tạo nguồn phát triển, chú ý các đối tượng chức danh ấp, khu phố, lực lượng dân quân tự vệ, y tế, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số,... phấn đấu đạt ở mức cao nhất chỉ tiêu được giao. 
02. Về việc giao biên chế khối đảng-đoàn thể được giao chung cả biên chế hành chính và biên chế theo hợp đồng 68 của Chính phủ đề nghị nên tách ra 02 nhóm riêng biệt. Đề nghị tỉnh có chủ trương cho huyện thực hiện thí điểm mô hình xã không có ấp.
- Về giao biên chế khối đảng-đoàn thể: Quy định của Ban Tổ chức Trung ương khi giao biên chế khối Đảng-Đoàn thể, biên chế hành chính và biên chế theo Hợp đồng 68 của Chính phủ được giao chung, nên không thể tách ra 02 nhóm riêng biệt được. Đề nghị Ban Thường vụ Huyện ủy Kiên Hải chỉ đạo thực hiện đúng quy định.
- Về đề nghị cho huyện thực hiện thí điểm mô hình xã không có ấp: Vấn đề này, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ghi nhận giao cho các cơ quan chức năng khảo sát, nghiên cứu, báo cáo cụ thể và đề xuất với Ban Thường vụ Tỉnh ủy xem xét.
03. Đề nghị tỉnh kiến nghị với Chính phủ sửa đổi, mở rộng đối tượng nghỉ theo Nghị định 108 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế. Đồng thời phân cấp giao thẩm quyền cho tỉnh xem xét, thẩm định.
Việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 108 của Chính phủ mở rộng đối tượng nghỉ, Bộ Nội vụ đã 03 lần tổ chức lấy ý kiến các bộ, ngành Trung ương, địa phương, hiện nay đang trình Chính phủ. Việc phân cấp cho tỉnh xem xét, thẩm định, tỉnh cũng đã có kiến nghị Trung ương, nhưng đến nay vẫn chưa được trả lời.
04. Đề nghị sớm triển khai lò đốt rác ở các xã nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn các xã.
Vấn đề này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chấp thuận chủ trương cho đầu tư nhân rộng mô hình xử lý rác thải bằng công nghệ BD-Anpha trong đó có các xã của huyện Kiên Hải. Giao các Sở: Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng thẩm định đề cương dự toán kinh phí thực hiện đầu tư theo quy định và giao Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện đầu tư mua sắm trang thiết bị công nghệ để thực hiện.
Do đó, đề nghị huyện Kiên Hải phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ rà soát về tiến độ lập dự án đầu tư mua sắm trang thiết bị, đồng thời làm việc cụ thể với Sở Tài chính để tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh về việc bố trí kinh phí để đầu tư.
05. Đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy cho chủ trương giao huyện mời gọi nhà đầu tư lấy đá để tạo mặt bằng xây dựng công trình: trung tâm hành chính, xã đội, bãi rác, nghĩa trang xã Lại Sơn và trường bắn của huyện. Theo cơ chế tận thu số lượng đá dôi dư chuyển đi nơi khác tiêu thụ.
Vấn đề này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có ý kiến như sau: Đối với các danh mục công trình cần cải tạo mặt bằng, thu hồi đá trên địa bàn huyện Kiên Hải yêu cầu chủ đầu tư phải có quyết định chủ trương đầu tư, thiết kế cơ sở, đánh giá tác động môi trường,… được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định. Đề nghị Ban Thường vụ Huyện ủy Kiên Hải lãnh đạo thực hiện ý kiến trên của Ủy ban nhân dân tỉnh.
06. Về quy hoạch, chỉnh trang, mở rộng lối đi khu vực cảng An Sơn, vì hiện nay Ban Quản lý cảng cho thuê, người dân tự xây dựng, mua bán lấn chiếm mất vẽ mỹ quan.
Việc quy hoạch, chỉnh trang, mở rộng lối đi khu vực cảng An Sơn, đã có chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Giao thông vận tải đang lập quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500, trong quá trình thực hiện sẽ nghiên cứu bổ sung, chỉnh trang, mở rộng lối đi tại khu vực cảng. Đề nghị huyện phối hợp với Sở Giao thông vận tải để triển khai thực hiện.
07. Đề nghị Tỉnh ủy ghi vốn xây dựng Nhà ăn và sửa chữa Nhà khách Huyện ủy vào năm 2019, vì hiện nay công trình này đã xuống cấp. Bổ sung nguồn vốn trung hạn (2016-2020) để sửa chữa hội trường, trang bị phòng họp trực tuyến Huyện ủy.
Về đề nghị nêu trên, ngày 04-4-2018, Văn phòng Tỉnh ủy đã có Công văn số 1267-CV/VPTU, đề nghị Văn phòng các huyện, thị, thành ủy báo cáo về hiện trạng, quy mô hội trường, thiết bị bàn ghế của cấp xã, huyện, thị, thành ủy để phục vụ Đại hội Đảng năm 2020, trên cơ sở đó, Văn phòng Tỉnh ủy tổng hợp báo cáo Thường trực Tỉnh ủy.
Về bổ sung nguồn vốn trung hạn (2016-2020) để trang bị phòng họp trực tuyến của huyện: Vấn đề này, Văn phòng Tỉnh ủy đang nghiên cứu xây dựng đề án chung cho các huyện trình Thường trực Tỉnh ủy để cho chủ trương.
08. Đề nghị cấp bổ sung kinh phí thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 30-5-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về ban hành quy định chế độ chi hoạt động công tác Đảng của tổ chức cơ sở đảng, đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở.
Tại Điều 15, Quyết định số 13/2017/QĐ-UBND, ngày 24-01-2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang quy định mức phân bổ dự toán chi quản lý hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể. Theo đó chi phí công việc đối với huyện Kiên Hải, Phú Quốc, Giang Thành là 32.400.000đồng/biên chế/năm bao gồm: các khoản chi hành chính phục vụ hoạt động thường xuyên bộ máy cơ quan; các khoản chi nghiệp vụ,... Ngoài ra, tiêu chí bổ sung chi hoạt động đặc thù cấp huyện, được phân bổ đối với huyện Kiên Hải là 3.300.000đồng/huyện/năm. Do đó, Sở Tài chính đã phân bổ kinh phí theo Quyết định số 99-QĐ/TW trong dự toán đầu năm.
Đề nghị huyện kiểm tra lại, nếu chưa bố trí nguồn kinh phí thực hiện thì cân đối bố trí nguồn kinh phí bổ sung chi cho hoạt động công tác Đảng theo quy định.
09. Đề nghị bố trí kinh phí trang bị cho huyện Kiên Hải một chiếc tàu công vụ để tuần tra, cứu hộ trên biển. (Vì tàu công vụ hiện tại đã xuống cấp, sửa chữa nhiều lần, không đảm bảo hoạt động trong thời tiết mưa bão).
Việc trang bị tàu công vụ để tuần tra, cứu hộ trên biển có giá trị mua sắm lớn, không thể bố trí từ nguồn ngân sách hằng năm. Đề nghị huyện có văn bản cụ thể trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét cho chủ trương.    
10. Về đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo ngành chuyên môn tăng cường tuần tra bảo vệ ngư trường, kịp thời xử lý các trường hợp vi phạm vùng cấm, nghề cấm (xung điện, chất nổ).
Vấn đề này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Chỉ thị số 2937/CT-UBND, ngày 29-12-2017 chỉ đạo các ngành có liên quan xây dựng Kế hoạch phối hợp số 01/KHPH-SNN-BP-CA giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh và Kế hoạch số 26/KH-SNN-BĐBP của Bộ đội Biên phòng về việc phối hợp thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nghề cá trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Theo đó đề nghị chủ tịch ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố (đặc biệt là các huyện, thị xã, thành phố ven biển) tổ chức quản lý các hoạt động tại vùng biển ven bờ, vùng cấm khai thác và trên sông, hồ, ao, đầm, kênh, rạch. Đã có phạm vi vùng biển phân cấp cho từng huyện, thị xã, thành phố quản lý theo Quyết định số 15/2017/QĐ-UBND, ngày 14-4-2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về quản lý hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, ban hành kèm theo Quyết định số 23/2015/QĐ-UBND, ngày 25-6-2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang. Ngoài ra, Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các lực lượng chức năng và các huyện, thị, thành phố tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra trên biển để kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là các nghề khai thác mang tính hủy diệt, nhằm quản lý tốt các hoạt động khai thác, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự trên vùng biển Kiên Giang. Ngoài ra, mới đây Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Quyết định ban hành “Đề án đảm bảo an ninh trật tự trên biển đảo tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2018-2021”. Vì vậy, đề nghị huyện Kiên Hải phối hợp tổ chức thực hiện có hiệu quả.
11. Về đề nghị xem xét, sửa đổi điều chỉnh Khoản 1, Điều 79 Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (vì đặc thù Kiên Hải dưới là mặt biển-kế đó là rộp đá-tiếp theo là rừng phòng hộ) việc xây dựng hành lang ven biển trên địa bàn huyện là khó thực hiện.
Tại Khoản 2 Điều 23 Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quy định cụ thể các nguyên tắc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển; đồng thời ở Điều 31, 32, 33, 34, 35 Nghị định số 40/2016/NĐ-CP đã quy định rất cụ thể về việc xác định các khu vực phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển; lập và phê duyệt Danh mục các khu vực phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, đề nghị huyện Kiên Hải thực hiện đúng theo quy định.
Mặt khác, ngày 24-3-2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến tại Công văn số 1385/BTNMT-PC, ngày 24-3-2017 như sau: Hành lang bảo vệ bờ biển và dải đất ven biển được thiết lập ở những khu vực cần bảo vệ hệ sinh thái, duy trì giá trị dịch vụ của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên ở vùng bờ; giảm thiểu sạt lỡ bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển (Khoản 1 Điều 23 Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo). Như vậy, hành lang bảo vệ bờ biển không phải được thiết lập trên toàn bộ bờ biển.
12. Đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy, tiếp tục kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương sớm triển khai thực hiện dự án kéo điện lưới quốc gia ra quần đảo Nam Du.
Dự án cấp điện lưới quốc gia cho các xã đảo tỉnh Kiên Giang, giai đoạn 2015-2020 đã được Bộ Công thương phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi ngày 30-10-2015. 
Hiện nay, dự án cấp điện lưới quốc gia cho các xã đảo tỉnh Kiên Giang, giai đoạn 2015-2020 chỉ còn lại cụm xã đảo An Sơn và Nam Du, huyện Kiên Hải với vốn đầu tư cho 02 xã đảo này khá lớn (khoảng 1.000 tỷ đồng), trong khi đó Tổng Công ty Điện lực Miền Nam cũng đang gặp nhiều khó khăn về vốn, không thể tự bố trí vốn để đầu tư cho dự án này nên phải chờ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ. Ban Thường vụ Tỉnh ủy ghi nhận đề nghị này, tiếp tục đề nghị với Trung ương sớm triển khai dự án kéo điện lưới quốc gia ra Quần đảo Nam Du. 
13. Đề nghị tỉnh cho chủ trương điều chỉnh diện tích 193,61 ha đất trồng cây lâu năm của các hộ dân ra khỏi đất rừng (các hộ này cư trú trước năm 1975). Nhưng do trước đây khi quy hoạch đất rừng các cơ quan chức năng không tách diện tích trên ra.
Vấn đề này, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã điều chỉnh quy hoạch đất lâm nghiệp (năm 2012 quy hoạch đất rừng huyện Kiên Hải là 1.684 ha, nay chỉ còn 1.287 ha) và đã trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Căn cứ Luật Đất đai và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, việc chuyển diện tích đất rừng phòng hộ trên 50 ha đất rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Đồng thời, thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết số 71-NQ/CP của Chính phủ về tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, trong đó hạn chế việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ sang mục đích khác. Việc chuyển 193,61 ha ra khỏi quy hoạch đất rừng phòng hộ, đề nghị Ủy ban nhân dân huyện lập hồ sơ đất đai, liên hệ với Sở Tài nguyên và Môi trường đưa vào điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất trong giai đoạn 2020-2025 trình Bộ, ngành Trung ương thẩm định, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
14. Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo ngành chuyên môn sớm bố trí vốn để nâng cấp, sửa chữa các điểm sạt lỡ do mưa lũ tại xã Lại Sơn.
Vấn đề này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có ý kiến (tại Công văn số 765/VP-KTCN, ngày 13-02-2018 của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh). Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Kiên Hải tiếp tục phối hợp với các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Xây dựng và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khảo sát lập phương án, dự trù nguồn kinh phí trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét. 
15. Đề nghị tỉnh xem xét bố trí trang thiết bị (máy X quang, máy xét nghiệm, máy đèn) cho Trung tâm Y tế huyện để phục vụ tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn.
Vấn đề này, mặc dù theo báo cáo Sở Y tế đã bố trí đủ các trang thiết bị (máy X quang, máy xét nghiệm, máy đèn) cho Trung tâm Y tế huyện Kiên Hải, bảo đảm hoạt động. Tuy nhiên, yêu cầu Sở Y tế kiểm tra kỹ lại việc này, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để Trung tâm y tế huyện Kiên Hải hoạt động; đồng thời yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo quản lý, sử dụng có hiệu quả.
Văn phòng Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các ban của Tỉnh ủy và Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi, kiểm tra việc thực hiện thông báo kết luận này, định kỳ báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

BBT

Tệp đính kèm
Tệp đính kèm   1225-TB-TU_201805230858121470.doc