Cổng thông tin điện tử Kiên Giang

Kinh tế - Xã hội

Xem với cỡ chữAA

Chín giải pháp phát triển cụm công nghiệp tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2016 - 2020, có xét đến năm 2025

(13:59 | 31/10/2018)

Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang vừa phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp (CCN) tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2016 - 2020, có xét đến năm. Theo đó quy hoạch đã nêu cụ thể một số nội dung sau:

Về quan điểm phát triển:

 

Quy hoạch phát triển các CCN tỉnh Kiên Giang phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể phát công nghiệp, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển đô thị, các khu dân cư và các quy hoạch chuyên ngành khác trên địa bàn tỉnh. Phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, gắn liền với sự hình thành và phát triển của các CCN tập trung. Việc phát triển các CCN tập trung có mục tiêu là tạo ra các điều kiện hạ tầng cơ sở và cơ chế, chính sách thuận lợi nhất cho mọi thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh cùng tham gia vào tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa của tỉnh.

 

Tập trung đầu tư có trọng điểm công nghiệp chế biến, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông, lâm, khoáng sản; các ngành nghề công nghiệp phục vụ nông, lâm, nghiệp. Những ngành nghề có thể thúc đẩy khu vực kinh tế nông thôn phát triển mạnh mẽ. Tăng cường đổi mới công tác quản lý nhà nước về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thông qua việc định hướng đầu tư, phát triển thị trường và xây dựng các chính sách, chế độ, môi trường ưu đãi đầu tư thông thoáng, bình đẳng, thực sự hấp dẫn và khơi dậy tính năng động trong các hoạt động đầu tư và sản xuất công nghiệp của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.

 

Phát triển các CCN theo hướng tổ chức phân bố lại các cơ sở sản xuất công nghiệp một cách hài hòa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng lãnh thổ; giải quyết đầu ra, nâng cao giá trị cho sản phẩm nông, lâm nghiệp và khoáng sản, giải quyết lao động của nông thôn, góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch về kinh tế giữa các vùng lãnh thổ và chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp cư dân trên địa bàn. Các CCN cần được quy hoạch riêng biệt với các khu dân cư và bố trí tại các địa điểm có kết cấu hạ tầng thuận lợi, gắn với vùng nguyên liệu và nguồn lao động, có điều kiện xử lý và bảo vệ môi trường, đảm bảo cho công nghiệp phát triển có hiệu quả và bền vững.

 

 

Về mục tiêu phát triển:

 

Mục tiêu tổng quát: Tăng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, là một bộ phận của định hướng quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành theo từng thời kỳ, giai đoạn của tỉnh. Xây dựng hệ thống CCN đồng bộ về hệ thống hạ tầng, có quy chế quản lý phù hợp, phát huy được lợi thế và nguồn lực của địa phương, nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả, giảm ô nhiễm môi trường, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Việc xây dựng mới các CCN hay mở rộng quy mô CCN từ hạt nhân là các cơ sở sản xuất có sẵn, trong đó chú trọng các hoạt động bảo vệ môi trường. Theo đó, các cơ sở sản xuất trong CCN phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc có cam kết bảo vệ môi trường theo các quy định của pháp luật; từng bước đầu tư hệ thống xử lý chất thải đảm bảo theo các tiêu chuẩn môi trường hiện hành.

 

Về mục tiêu cụ thể:

 

Đến năm 2025, phát triển tổng số 14 CCN, tổng diện tích là 607,97ha. Trong đó:

 

- Giai đoạn đến năm 2020: Phát triển 06 CCN với tổng diện tích 235 ha; tổng vốn đầu tư xây dựng hạ tầng đạt 2.068 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 17.625 lao động; phấn đấu 03 CCN đạt tỷ lệ lấp đầy trên 60%, tỷ lệ lấp đầy bình quân trên địa bàn tỉnh của các CCN còn lại là 40 đến 50%; tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các CCN ước tính từ 52 triệu USD đến 105 triệu USD/năm, bằng 1,9% đến 3,9% so với mục tiêu về tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh đến năm 2020.

 

- Xét đến năm 2025: Tiếp tục phát triển 08 CCN và mở rộng CCN Vĩnh Hòa Hưng Nam (giai đoạn 2), với tổng diện tích là 372,97 ha.

 

Giải pháp thực hiện quy hoạch:

 

Một là, giải pháp về vốn đầu tư phát triển hạ tầng CCN: Tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng CCN được vay vốn ưu đãi từ ngân hàng theo tiến độ của dự án. Đổi mới thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn được nhanh chóng, hiệu quả; hỗ trợ vốn từ ngân sách của Trung ương và tỉnh cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đối với các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) chậm phát triển. Hình thành và phát triển quỹ tín dụng, mở rộng các hình thức vay tín dụng, thuế chấp hình thành từ vốn vay, cho thuê tài sản; tăng cường cho vay các dự án trung và dài hạn; thành lập các quỹ hỗ trợ, bảo lãnh tín dụng thông qua các hiệp hội ngành nghề; xây dựng quỹ khuyến công để hỗ trợ cho các hoạt động phát triển CN-TTCN. Phát huy nội lực của tỉnh kết hợp với việc kêu gọi đầu tư từ các nguồn trong nước và quốc tế. Tranh thủ các nguồn vốn tín dụng, vốn vay ODA, FDI và các nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế. Sử dụng các chính sách ưu đãi, miễn, giảm thuế không vi phạm các cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) để khuyến khích đầu tư; thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư tập trung vào các dự án, các ngành công nghiệp mũi nhọn, các sản phẩm chủ yếu có khả năng xuất khẩu.

 

Hai là, giải pháp tạo quỹ đất sạch cho phát triển CCN: Hỗ trợ nhà đầu tư hạ tầng thực hiện thủ tục và công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng; tạo sẵn quỹ đất sạch khi nhà đầu tư bắt đầu triển khai các bước chuẩn bị đầu tư. Hỗ trợ, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để tái định cư với người dân khi phải di dời để phát triển CCN; xây dựng tốt phương án hỗ trợ đối với người dân và phải thực hiện song song với xây dựng phương án hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề để thu hút chính lực lượng lao động này vào làm việc trong CCN.

 

Ba là, giải pháp thu hút đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng CCN: Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi về môi trường đầu tư linh hoạt, thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh tham gia các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật CCN và các dự án đầu tư phát triển sản xuất CN-TTCN vào CCN trên địa bàn tỉnh. Tạo môi trường đầu tư thông thoáng và thuận lợi, đặc biệt là công tác thủ tục; quan tâm đối với các nhà đầu tư ngay ở giai đoạn đầu thực hiện dự án, nhằm tạo niềm tin để thu hút thêm những nhà đầu tư mới, cũng như cũng cố niềm tin của nhà đầu tư hiện hữu. Hỗ trợ nhà đầu tư sau khi dự án được cấp phép, bao gồm: Giải quyết thủ tục điều chỉnh giấy phép đầu tư, thủ tục giao nhận mặt bằng, giấy phép xây dựng, đấu thầu, ưu đãi đầu tư...; công tác tuyển dụng nguồn nhân lực, hỗ trợ tiếp cận các tổ chức tín dụng, các thông tin kinh tế - xã hội có liên quan; tư vấn lập dự án cho nhà đầu tư.

 

Bốn là, giải pháp phát triển hạ tầng kỹ thuật đồng bộ trong và ngoài CCN: Tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng CCN được vay vốn ưu đãi từ ngân hàng theo tiến độ của dự án. Vốn đầu tư xây dựng hạ tầng CCN do các nhà đầu tư tự bỏ vốn đầu tư xây dựng, quản lý, cho thuê hạ tầng theo quy định pháp luật. Hỗ trợ vốn từ ngân sách của Trung ương và tỉnh cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đối với các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn và CN-TTCN chậm phát triển. Hỗ trợ tài chính, tín dụng cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn tạo động lực phát triển như các vùng nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu, các dự án có hiệu quả kinh tế cao. Đẩy mạnh đầu tư và nâng cấp cơ sở hạ tầng (đường giao thông, cảng nước sâu, điện, nước, thông tin liên lạc...) tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư và giao thương hàng hóa với các vùng kinh tế lớn của cả nước và thị trường thế giới.

 

Năm là, giải pháp thu hút đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp vào CCN: Hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư sản xuất; khuyến khích môi trường sản xuất linh hoạt, thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh tham gia các dự án đầu tư phát triển sản xuất CN-TTCN vào CCN trên đia bàn tỉnh. Hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất giải quyết thủ tục hành chính, giao nhận mặt bằng sản xuất, giấy phép xây dựng, đấu thầu xây dựng, tuyển dụng nguồn nhân lực, tiếp cận các tổ chức tín dụng, các thông tin kinh tế - xã hội có liên quan, tạo lập môi trường dịch vụ công nghiệp đồng bộ. Áp dụng triệt để các chính sách của nhà nước đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ (CNHT), đặc biệt cả vấn đề nhà ở cho công nhân.

 

Sáu là, giải pháp liên kết phát triển CCN: Khuyến khích thành lập hiệp hội ngành nghề, đồng thời với việc nâng cao hoạt động của các hiệp hội nhằm cung cấp và chia sẻ thông tin lẫn nhau giữa các doanh nghiệp trong CCN và giữa các CCN với nhau; đẩy mạnh liên kết với các viện nghiên cứu, các trường đại học... để hợp tác và ứng dựng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, đào tạo những ngành nghề đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, góp phần mang lại hiệu quả. Đẩy mạnh công tác xúc tiến theo hướng tập trung vào chương trình vận động theo từng đối tác, lĩnh vực hoặc dự án cụ thể, theo tiêu chí gia tăng quy mô vốn đầu tư trên dự án và diện tích, sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, ít gây ô nhiễm môi trường và đa dạng hóa quốc gia vùng lãnh thổ đầu tư.

 

Bảy là, giải pháp đổi mới công tác quản lý nhà nước về CCN: Cụ thể hóa các quy định quản lý nhà nước của Trung ương vào điều kiện cụ thể của địa phương, đồng thời có sự phối hợp toàn diện và tích cực trong việc hỗ trợ, tháo gỡ các vướng mắc cho các nhà đầu tư triển khai dự án và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh việc phân cấp, uỷ quyền quản lý các CCN cho chính quyền địa phương các cấp theo hướng đơn giản, hiệu quả bền vững. Tăng cường kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ công chức, đặc biệt ở các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp như: Thuế, quản lý môi trường, lao động, xuất khẩu... Đẩy mạnh việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào hoạt động quản lý nhà nước.

 

Tám là, giải pháp bảo vệ môi trường: Lựa chọn, áp dụng công nghệ tiên tiến hợp lý, có thể sử dụng công nghệ nhiều tầng (các thế hệ công nghệ), phù hợp với tính chất và quy mô dự án nhưng phải đảm bảo có hiệu quả tổng hợp kinh tế - xã hội - môi trường. Đẩy mạnh áp dụng sản xuất sạch hơn; phương thức sử dụng tài nguyên và năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và giảm thiểu phát thải (nhất là khí nhà kính); phát triển sản xuất, sử dụng năng lượng sạch và tái tạo; xanh hóa từ sản xuất đến tiêu dùng hàng công nghiệp. Tiến hành đánh giá hiện trạng môi trường đối với toàn bộ các CCN hiện có và các cơ sở sản xuất; kiểm kê các nguồn gây ô nhiễm; định kỳ quan trắc, phân tích thành phần các chất thải độc hại; hỗ trợ kỹ thuật, đầu tư vốn, bố trí nhân lực cho công tác quan trắc, thanh tra, quản lý môi trường...; các dự án đầu tư phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường trước khi cấp phép đầu tư xây dựng... Đối với những dự án, nhà máy đã được cấp phép đầu tư xây dựng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường định kỳ theo quy định. Tiếp tục nâng cấp hệ thống xử lý nước thải hiện có tại các CCN; đẩy mạnh công tác tuyên truyền để doanh nghiệp và nhân dân hiểu rõ và cùng thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường; tôn vinh, khen thưởng hoặc xử lý khi cần thiết.

 

Chín là, giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu: Ưu tiên triển khai các dự án, công trình phòng, chống, hạn chế tác động của triều cường, lũ lụt, hạn hán, xói lở bờ biển, xâm nhập mặn do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Tập trung cho các chương trình, dự án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, củng cố nâng cấp các đoạn đê biển; nâng cấp mạng lưới quan trắc khi tượng thủy văn để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm các điều kiện khí hậu cực đoan do tác động của biến đổi khí hậu. Đồng bộ các giải pháp chủ động phòng, tránh, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng đối với các vùng ven biển; nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tái cấu trúc kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh, phát thải ít các-bon.

 

Tăng cường công tác tuyên truyền để người dân nhận thức đúng, không bị động, không bị hoang mang trước ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu để chủ động thích ứng. Tăng cường quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; nâng cao trách nhiệm và năng lực cho cán bộ các cấp trong công tác ứng phó với biến đổi khí hậu. Quy hoạch các CCN đảm bảo sự đồng bộ với các giải pháp đối phó với biến đổi khí hậu tổng thể của tỉnh. Khi tiến hành các bước tiếp theo cần chú trọng các giải pháp về san nền, thoát nước và phối hợp với địa phương để có các giải pháp đồng bộ ứng phó với biến đổi khí hậu, phù hợp với từng địa bàn và giải pháp tổng thể đã có./.

Ng.Lê Hồng