|
ND - Thời gian qua, hoạt động khoa học và công nghệ (KH và CN) nói chung, nghiên cứu, triển khai và đổi mới công nghệ nói riêng ở Kiên Giang đã có những chuyển biến tích cực, thiết thực góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Từ năm 2006 đến nay, được sự quan tâm của Bộ KH và CN, tỉnh Kiên Giang đã và đang thực hiện bốn dự án thuộc Chương trình nông thôn - miền núi, nhằm xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ KH và CN phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp.
Các mô hình được triển khai vào thực tế đã góp phần nâng cao trình độ sản xuất, cải thiện thu nhập cho người nông dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Khmer. Trong ba năm (2006-2008), UBND tỉnh đã phê duyệt cho thực hiện 29 đề tài, dự án KH và CN, trong đó đã nghiệm thu 15 đề tài, dự án, ứng dụng vào sản xuất 10 đề tài, dự án (tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực nông - ngư nghiệp, y tế). Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã hỗ trợ các huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh ứng dụng nhiều tiến bộ KH và CN vào sản xuất, xây dựng được 41 mô hình sản xuất theo hướng thâm canh và chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp...
Nhìn chung hoạt động nghiên cứu, triển khai KH và CN trên địa bàn đã được đầu tư tập trung và sát với yêu cầu thực tiễn của sản xuất, góp phần làm gia tăng số lượng, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, tăng hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên, từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân.
Bên cạnh sự hỗ trợ của các sở, ngành, một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chủ động đổi mới công nghệ và thiết bị nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, đổi mới sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Ðiển hình là trong lĩnh vực chế biến thủy sản, như: Công nghệ và thiết bị cấp đông IQF, dây chuyền chế biến bột cá LFP... Sở KH và CN Kiên Giang đã tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng và triển khai đề án "Hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến" (trung bình mỗi năm hỗ trợ cho năm đến sáu doanh nghiệp tham gia xây dựng và được cấp giấy chứng nhận); đề án "Hỗ trợ các đơn vị hành chính và sự nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến" (đã có 15 đơn vị đang triển khai áp dụng)...
Tỉnh cũng đã hỗ trợ cho nhiều doanh nghiệp tham gia các kỳ Chợ công nghệ và thiết bị, Giải thưởng chất lượng Việt Nam và từ năm 2007 đã tổ chức Hội thi sáng tạo kỹ thuật nhằm đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, phục vụ sản xuất trên địa bàn.
Ngoài ra, Trung tâm KH và CN của Sở cũng đã tổ chức cung cấp và phổ biến thông tin KH và CN trên sóng phát thanh - truyền hình thông qua Chuyên mục KH và CN với 2 kỳ/tháng, trên website Kiên Giang ... nhằm thu thập, tập hợp và cung cấp những thông tin về các tiến bộ KH và CN có thể ứng dụng vào sản xuất, giúp cho doanh nghiệp và nông dân tiếp cận được dễ dàng hơn với những tiến bộ KH và CN. Những công việc này ít nhiều đã giúp doanh nghiệp và người dân trong tỉnh tiếp cận được với những thông tin về các công nghệ mới, phương pháp quản lý mới, góp phần từng bước hình thành thị trường công nghệ trên địa bàn.
Cùng với những thành quả đã đạt được, hoạt động nghiên cứu - triển khai và đổi mới công nghệ ở Kiên Giang thời gian qua bộc lộ một số tồn tại như:
Một là, các đề tài, dự án đã thực hiện đa số đều có quy mô nhỏ, ngắn hạn và chỉ tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất nông - ngư nghiệp; chưa có đề tài, dự án lớn mang tính đột phá.
Hai là, kinh phí sự nghiệp KH và CN của tỉnh hạn chế (tính cả kinh phí cho sự nghiệp công nghệ thông tin cũng vẫn chưa đạt 2% tổng chi ngân sách địa phương), dẫn đến kinh phí dành cho nghiên cứu, triển khai và đổi mới công nghệ hạn chế. Không những thế, kinh phí hằng năm chi cho KH và CN cũng chưa được giải ngân hết, phải chuyển qua năm sau.
Ba là, chưa nắm bắt, cập nhật tình hình đổi mới công nghệ và thiết bị của các thành phần kinh tế nên chưa đánh giá được hiện trạng đổi mới công nghệ và thiết bị trên địa bàn. Do vậy, việc tham mưu, đề xuất với cấp có thẩm quyền các chính sách về đổi mới công nghệ ở tỉnh hạn chế.
Bốn là, thiếu hệ thống tư vấn chuyên nghiệp về đổi mới và chuyển giao công nghệ. Vấn đề xã hội hóa nhiệm vụ tư vấn, dịch vụ KH và CN ở địa phương nhiều hạn chế.
Năm là, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh còn mờ nhạt; đội ngũ cán bộ có năng lực tư vấn, phản biện của tỉnh mỏng và chưa có cơ chế để tập hợp lực lượng một cách hiệu quả...
Ðể thúc đẩy hơn nữa công tác nghiên cứu - triển khai và đổi mới công nghệ ở địa phương, chúng tôi xin kiến nghị Chính phủ đã ban hành Nghị định về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KH và CN và Liên bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
Theo đó, nếu doanh nghiệp thực hiện đề tài KH và CN nhằm tạo ra công nghệ mới thuộc lĩnh vực ưu tiên thì sẽ được hỗ trợ tối đa không quá 30% tổng kinh phí thực hiện đề tài. Liên bộ cũng đã ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH và CN được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí, trong đó quy định mức thu hồi kinh phí là 60 - 70%. Với các mức quy định như vậy rất khó áp dụng ở địa phương, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa.
Cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chuyển giao công nghệ; hướng dẫn chi tiết việc triển khai công tác thống kê KH và CN, xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng công nghệ ở cấp tỉnh và cả nước để phục vụ cho công tác xây dựng chính sách đổi mới công nghệ tại địa phương. Khẩn trương ban hành các chính sách nhằm ưu đãi, tạo đòn bẩy thúc đẩy hoạt động sáng tạo công nghệ, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ KH và CN (xã hội hóa); chính sách ưu đãi đối với cán bộ KH và CN phục vụ tại các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa...
Về phía địa phương, cần bảo đảm đủ kinh phí sự nghiệp KH và CN là 2% tổng chi ngân sách hằng năm của tỉnh, có kế hoạch phân bổ vốn ban đầu cho Quỹ phát triển KH và CN từ năm 2009. Nhanh chóng, xác định một số nhiệm vụ, chương trình KH và CN lớn, có tính then chốt để tập trung đầu tư nhằm tạo ra bước đột phá về KH và CN, làm tiền đề và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường của tỉnh; xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu về đội ngũ KH và CN trong tỉnh (cả trong hệ thống chính trị và các thành phần kinh tế). Tăng cường đào tạo cán bộ KH và CN (cả quản lý và nghiên cứu), tạo điều kiện cho cán bộ KH và CN tham quan, học tập về quản lý KH và CN ở trong và ngoài nước, tiến tới chuẩn hóa đội ngũ cán bộ KH và CN ở địa phương...
Thạc sĩ LƯƠNG THANH HẢI (Đăng trên Báo Nhân Dân điện tử)
|