|
Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước; ngành Kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động trên phạm vi cả nước. Viện Kiểm sát nhân dân 21 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của miền Nam được thành lập theo Nghị định số 09-BTP/NĐ ngày 23 tháng 4 năm 1976 của Bộ Tư pháp - Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, trong đó có Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Cũng như các Viện Kiểm sát ở miền Nam, khi mới được thành lập, Viện Kiểm sát Kiên Giang gặp không ít khó khăn về mọi mặt nhưng với sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Kiên Giang, Viện Kiểm sát hai cấp đã từng bước được củng cố và cho đến nay cơ bản được kiện toàn về tổ chức bộ máy và cán bộ. Viện Kiểm sát Kiên Giang khi thành lập có Viện Kiểm sát tỉnh và 9 đơn vị cấp huyện, tổng số cán bộ, công chức có 22 người. Qua quá trình xây dựng và củng cố đến nay Viện Kiểm sát tỉnh có 25 đơn vị, trong đó 15 Viện Kiểm sát cấp huyện với tổng số cán bộ, công chức là 222 người. Điều đó thể hiện Ngành Kiểm sát Kiên Giang đã phát triển cùng với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của địa phương. Sự lớn mạnh đó có được là do có sự lãnh đạo của Đảng và sự nỗ lực của từng cán bộ, công chức trong ngành, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, đã gương mẫu đi đầu, nêu cao ý thức trách nhiệm, đoàn kết tập hợp được đông đảo cán bộ cùng nhau chăm lo xây dựng và phát triển ngành.
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống ngành Kiểm sát nhân dân; Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương thành lập Ban Cán sự Đảng Viện Kiểm sát nhân dân, có Quyết định số 62-QĐ/TW ngày 15 tháng 3 năm 1993 thành lập Ban Cán sự Đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Sau đó Tỉnh uỷ Kiên Giang có Quyết định số 507/QĐ-TU ngày 05 tháng 6 năm 1993 về thành lập Ban Cán sự Đảng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh.
Trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của ngành, Viện Kiểm sát Kiên Giang luôn bám sát các Nghị quyết của Đảng, các chủ trương chính sách lớn của Nhà nước, nhất là quán triệt quan điểm của Đảng tại các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; tập trung thực hiện tốt Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1981, 1992, 2002 và các văn bản chỉ đạo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Kiên Giang về công tác xây dựng ngành, đẩy mạnh công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ, thực hiện tốt quy chế dân chủ, quy tắc ứng xử trong hoạt động của ngành. Từ đó hoạt động công tác kiểm sát đáp ứng được yêu cầu thực hiện chức năng theo luật định và phục vụ tốt yêu cầu chính trị của địa phương.
Trong những năm đầu mới thành lập, hai cấp Kiểm sát có phần lúng túng khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ do mới mẻ, chưa có nghiệp vụ chuyên sâu và chưa có nhiều kinh nghiệm. Phần lớn cán bộ, công chức của ngành được điều động từ các ngành Công an, Quân sự sang và số cán bộ được tăng cường từ Viện Kiểm sát miền Bắc vào. Qua hoạt động thực tế vài ba năm sau đó, Viện Kiểm sát tỉnh đã có sự chuyển biến đi lên, các mặt công tác từng bước đi vào nền nếp, có nội dung và phương pháp làm việc phù hợp. Điều đặc biệt cần khẳng định là từ khi thành lập cho đến nay, Viện Kiểm sát tỉnh Kiên Giang đã căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ theo quy định của Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1960, 1981, 1992, 2002 để tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất; góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân; bảo đảm mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải xử lý theo pháp luật.
Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội luôn bám sát vào chức năng, nhiệm vụ đã được quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, các Nghị quyết của Đảng, chủ trương của Nhà nước; từ đó hai cấp Kiểm sát thực hiện thống nhất theo kế hoạch và tập trung kiểm sát chủ yếu những lĩnh vực kinh tế phức tạp có thể dẫn đến vi phạm pháp luật, thực hiện đúng trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ chính trị theo từng thời kỳ. Chú ý kiểm sát văn bản pháp quy gắn với kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các lĩnh vực trọng tâm; đồng thời kiểm sát việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của các ngành nhằm giúp cho công tác này ngày càng đi vào nề nếp, đảm bảo xử phạt nghiêm minh, đúng pháp luật. Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật đã trực tiếp kiểm sát 1.278 điểm, thu hồi cho Ngân sách Nhà nước 78 tỷ 529 triệu đồng và nhiều vật tư hàng hoá khác; đã tổ chức nhiều cuộc hội nghị pháp chế nhằm kiến nghị khắc phục các vi phạm, nâng cao chất lượng công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên do yêu cầu mới, năm 2002 có sự điều chỉnh về chức năng hoạt động của Viện Kiểm sát để thực hiện công cuộc cải cách tư pháp- Ngành Kiểm sát thôi giữ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội mà chỉ tập trung thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Đối với công tác kiểm sát hình sự, xuất phát từ đặc điểm vị trí địa - chính trị nhạy cảm của tỉnh nên tình hình địa phương có nhiều diễn biến phức tạp về vi phạm, tội phạm trên các lĩnh vực về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và kinh tế, chức vụ. Được sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh uỷ, Viện Kiểm sát Kiên Giang đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban ngành trong tỉnh, nhất là Công an và Toà án có biện pháp kiên quyết đấu tranh với các loại tội phạm, đảm bảo cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn của tỉnh; tăng cường các biện pháp nghiệp vụ nhằm chống để lọt tội phạm và làm oan người vô tội, tiến hành chặt chẽ ngay từ khi khởi tố vụ án đến suốt quá trình điều tra. Thực hiện tốt công tác quản lý và xử lý tin báo tội phạm, trực tiếp khởi tố và yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố điều tra nhiều vụ án hình sự; kiểm sát chặt chẽ việc bắt, tạm giữ, tạm giam; củng cố hồ sơ truy tố, xét xử góp phần cho việc chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực này có nhiều tiến bộ đáng kể. Viện Kiểm sát tỉnh còn tham gia Hội đồng Tư vấn xét đặc xá cho trên 20.500 trường hợp đủ điều kiện.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Chỉ thị của Chính phủ về đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, đấu tranh chống tham nhũng buôn lậu, tội phạm ma túy và các tệ nạn xã hội… hàng năm Viện Kiểm sát cùng với các ngành phát hiện, thụ lý và xử lý kịp thời đối với các loại án này, chú trọng việc xét chọn án điểm và tổ chức xét xử lưu động hàng trăm vụ, được dư luận quần chúng đồng tình ủng hộ, có tác dụng thiết thực trong việc giáo dục, phòng ngừa chung; các vụ án được giải quyết đã đảm bảo trong thời gian luật định; không có án oan sai, gây bất bình trong nhân dân. Hai cấp Kiểm sát đã thụ lý kiểm sát điều tra 15.580 vụ án, quyết định truy tố 13.109 vụ, kiểm sát xét xử 14.237 vụ sơ, phúc thẩm hình sự; trong đó có trên 535 vụ án tham nhũng, 175 vụ buôn lậu, 379 vụ án ma túy và tệ nạn xã hội.
Trên cơ sở thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị; Viện Kiểm sát tỉnh đã nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; trong đó thể hiện rõ chất lượng, hiệu quả quá trình thực hiện nhiệm vụ Kiểm sát của Kiểm sát viên tại phiên toà được nâng lên, đảm bảo tính dân chủ và quyền lợi của những người tham gia tố tụng. Lãnh đạo Viện tỉnh đã tập trung chỉ đạo, quán triệt thực hiện tốt yêu cầu đó gắn với đẩy mạnh công tác tuyển chọn Kiểm sát viên giỏi; tạo ra những bước đi vững chắc trong lĩnh vực này.
Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự chủ yếu tập trung giải quyết các tranh chấp về nhà ở, tài sản, hôn nhân gia đình. Viện Kiểm sát hai cấp đã thực hiện tốt kiểm sát việc lập hồ sơ và việc giải quyết của Toà án; chủ động trực tiếp điều tra bổ sung chứng cứ, tích cực tham gia xét xử ở các trình tự sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm; kịp thời phát hiện những vi phạm và kịp thời kháng nghị, kiến nghị yêu cầu khắc phục. Riêng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, tuy mới tiếp cận trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường các tranh chấp có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp nhưng cán bộ, Kiểm sát viên hai cấp đã cố gắng thực hiện tốt kiểm sát việc lập hồ sơ và giải quyết án được đầy đủ theo quy định của pháp luật. Năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự được ban hành, ngành Kiểm sát không tham gia xét xử 100% mà chủ yếu kiểm sát các thông báo thụ lý, các quyết định, bản án giải quyết các vụ án của Toà án; công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự đã tập trung đi sâu nghiên cứu nắm bắt, phát hiện các vi phạm và kháng nghị, kiến nghị yêu cầu thực hiện đúng quy định của pháp luật, đã góp phần hạn chế thiếu sót của cơ quan tiến hành tố tụng.
Công tác kiểm sát thi hành án những năm đầu khi mới thành lập ngành chưa được quan tâm đúng mức, nhưng từ năm 1993 khi Pháp lệnh Thi hành án phạt tù và Pháp lệnh Thi hành án dân sự được ban hành; khi Pháp lệnh Thi hành án được sửa đổi, bổ sung năm 2004 cũng như Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã tạo cơ sở, tiền đề để thực hiện tốt công tác kiểm sát thi hành án. Ngành Kiểm sát Kiên Giang đã luôn chú trọng củng cố khâu công tác này, tích cực chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan quản lý chặt chẽ hơn đối với các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nhất là các trường hợp án phạt tù nhưng chưa được bắt thi hành án, đã cùng với các ngành hữu quan kịp thời chấn chỉnh việc ban hành các quyết định thi hành án, đảm bảo tính có căn cứ và đúng pháp luật.
Ngoài ra hai cấp kiểm sát còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác giám sát, giáo dục các bị án phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ tại các Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn, góp phần thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh và thống nhất. Trong những năm gần đây, lãnh đạo Viện tỉnh có chỉ đạo hai cấp đi sâu kiểm sát lĩnh vực này; qua đó nhiều Viện Kiểm sát cấp huyện chủ động đề nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp tổ chức hội nghị pháp chế để chấn chỉnh các mặt hạn chế, thiếu sót, củng cố công tác này thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh các khâu công tác khác, công tác kiểm sát giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân cũng được coi trọng, thường xuyên nắm bắt tình hình để chủ động tiến hành kiểm sát các hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp; qua đó đã yêu cầu khắc phục những vi phạm trong lĩnh vực này; kịp thời giải quyết các yêu cầu khiếu nại, tố cáo của công dân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, không để đơn tồn đọng kéo dài, phức tạp. Những năm đầu đã thực hiện nhiệm vụ kiểm sát xét khiếu tố, đạt được những kết quả nhất định trong đảm bảo quyền dân chủ và lợi ích chính đáng của công dân. Khi thực hiện Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002, công tác này chỉ tiến hành ở phạm vi kiểm sát khiếu tố trong hoạt động tư pháp. Qua thực tiễn cho thấy, công tác này rất quan trọng và thực sự cần thiết trong hệ thống tổ chức bộ máy của Viện Kiểm sát nhân dân. Chính từ đó, ngành đã quan tâm nâng cao hiệu quả hoạt động bằng việc mở rộng công tác này ở các lĩnh vực công tác nghiệp vụ Kiểm sát, có sự phân công tách bạch rõ ràng để đảm bảo cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đảm bảo cho trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa được duy trì và giữ vững.
Để các hoạt động của ngành được thực hiện tốt, cần có công tác thống kê phục vụ cho chỉ đạo, điều hành chặt chẽ. Công tác thống kê tội phạm của Viện Kiểm sát Kiên Giang thời gian đầu đưa vào hoạt động chung với Văn phòng tổng hợp nhưng từ năm 2003, công tác thống kê được chú trọng hơn cùng với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động ở hai cấp Kiểm sát đã đảm bảo thực hiện tốt thống kê hình sự liên ngành; quản lý, khai thác thông tin phục vụ có hiệu quả yêu cầu phòng, chống tội phạm của ngành và của tỉnh. Hệ thống máy tính được kết nối mạng nội bộ và thiết lập đường truyền phục vụ truyền dữ liệu đảm bảo được yêu cầu. Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển hai cấp Kiểm sát đã nhanh chóng triển khai sử dụng hệ thống thư điện tử, đảm bảo tốt việc ứng dụng và thực hành tiết kiệm trong hoạt động của các đơn vị.
Trong công tác xây dựng ngành, trong những năm mới thành lập, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quan tâm bố trí các đồng chí lãnh đạo chủ chốt trực tiếp chỉ đạo, kiêm nhiệm phụ trách, giữ chức vụ Viện trưởng. Các đồng chí lãnh đạo Viện tỉnh đã chú trọng tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đơn vị. Công tác đào tạo, bồi dưỡng được quan tâm, đẩy mạnh; đã tranh thủ sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để tập trung đào tạo, nhất là những năm 1985 tạo nguồn cán bộ liên tục đảm bảo kế thừa tương đối tốt. Căn cứ vào các Đề án, Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; lãnh đạo Viện tỉnh đã chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể cho từng năm phù hợp và kịp thời; trước mắt tập trung đào tạo cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ thuộc diện quy hoạch; có chú ý trong ưu tiên đào tạo cho cán bộ trẻ, cán bộ là nữ, dân tộc thiểu số có nhiều triển vọng phát triển để làm cơ sở tạo nguồn; từ đó các lớp đào tạo, bồi dưỡng từng bước được nâng lên về chất lượng và số lượng. Tính đến năm 2000, Viện tỉnh cử đi 32 lượt với 04 loại hình đào tạo, bồi dưỡng thì năm 2008 là 92 lượt với 08 loại hình đào tạo, bồi dưỡng. Năm 2009, cử đi 96 lượt với 11 loại hình đào tạo, bồi dưỡng. Năm 2011, cử đi trên 130 lượt với trên 15 loại hình đào tạo, bồi dưỡng, có kết hợp đào tạo tại chỗ để củng cố, nâng cao trình độ về ngoại ngữ, tin học và kiến thức quản lý nhà nước, quốc phòng- an ninh, hội nhập kinh tế quốc tế.
Công tác quy hoạch cán bộ từng bước được triển khai thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh mà cụ thể nhất là Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 11-KH/TU ngày 25 tháng 8 năm 2006; Công văn chỉ đạo số 91-CV/TU ngày 31 tháng 3 năm 2011 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; Văn bản số 1861/VKSTC-V9 ngày 22 tháng 6 năm 2009 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Ban Cán sự Đảng đã xây dựng kế hoạch luân chuyển cán bộ đến năm 2010 và những năm tiếp theo; phối hợp với cấp uỷ của tỉnh và huyện hoàn chỉnh quy hoạch cán bộ lãnh đạo các đơn vị ở hai cấp Kiểm sát, trong đó tập trung quy hoạch lãnh đạo Viện tỉnh và cấp huyện, giới thiệu trúng cử 100% Viện trưởng hai cấp tham gia vào cấp uỷ. Tiến hành xong công tác quy hoạch cán bộ, lãnh đạo, quản lý hai cấp giai đoạn từ nay đến năm 2015 và 2020. Trong công tác quy hoạch có chú ý gắn liền với công tác đào tạo, bổ nhiệm cán bộ; việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý và Kiểm sát viên được tập trung thống nhất, đổi mới và hiệu quả; cho đến nay, ở hai cấp Kiểm sát đều có đủ các chức vụ lãnh đạo, quản lý theo quy định, có 119 Kiểm sát viên (Trung cấp 40, Sơ cấp 79). Nhìn chung, đội ngũ Kiểm sát viên đều có tư tưởng vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, tận tuỵ với công việc, được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị. Đội ngũ cán bộ của ngành đã thực sự trưởng thành theo năm tháng và được minh chứng rõ nhất bởi sự đánh giá cao và sự tin tưởng của cấp uỷ các cấp về nguồn bố trí cán bộ lãnh đạo phục vụ cho yêu cầu chính trị của địa phương. Đã có 19 đồng chí theo yêu cầu đó đã chuyển ngành, đảm nhận nhiệm vụ mới là Tỉnh uỷ viên, Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư huyện, Giám đốc Sở, Thường vụ Huyện uỷ và đứng đầu các cơ quan trong hệ thống các ngành tư pháp tỉnh, huyện, thị, thành.
Lãnh đạo hai cấp Kiểm sát quán triệt thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện lời Bác dạy đối với cán bộ ngành Kiểm sát “Công minh, Chính trực, Khách quan, Thận trọng, Khiêm tốn”. Đối chiếu với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành để trau dồi, rèn luyện nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ Kiểm sát vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về phẩm chất đạo đức, tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ và công tâm trong thực thi nhiệm vụ. Qua đó, hầu hết cán bộ, Kiểm sát viên đã có sự nhận thức sâu sắc về tầm đặc biệt quan trọng của cuộc vận động và đã vận dụng vào công việc thực tế của cơ quan, trong đời sống hàng ngày có hiệu quả.
Với sự nỗ lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ, ngành Kiểm sát Kiên Giang đã được Nhà nước tặng thưởng Huâng chương Lao động hạng Ba. Nhiều tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huâng chương Lao động hạng nhì, hạng Ba và khen thưởng danh hiệu bậc cao khác. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đã tặng thưởng các danh hiệu theo quy định đối với các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua của ngành phục vụ yêu cầu chính trị tại địa phương. Công nhận 01 Chiến sỹ Thi đua toàn quốc năm 2010. Hiện nay đang đề nghị xét danh hiệu thi đua bậc cao cho 09 tập thể và 05 cá nhân có thành tích xuất sắc.
Thành tích và những ưu điểm nổi bật của ngành Kiểm sát Kiên Giang đã nêu trên thể hiện sự nỗ lực cống hiến của toàn thể cán bộ, Kiểm sát viên của hai cấp Kiểm sát. Tuy nhiên, qua 35 năm xây dựng và trưởng thành, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang nhận thấy còn một số hạn chế, thiếu sót sau:
- Công tác tuyên truyền về hoạt động của ngành Kiểm sát chưa được quan tâm một cách cụ thể nên một số tổ chức, cá nhân và công dân… chưa nắm bắt, hiểu biết nhiều về chức năng, nhiệm vụ của ngành; vì vậy gặp không ít khó khăn trong quá trình tổ chức thực thi pháp luật có liên quan.
- Ở một vài Viện Kiểm sát cấp huyện chưa làm tốt việc tổng hợp những sai phạm, thiếu sót của các cơ quan tư pháp, nhất là trong lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp, công tác thi hành án vẫn còn để tồn đọng kéo dài; có những bản án đã có hiệu lực nhiều năm nhưng vẫn chưa thi hành được…; nếu khắc phục tốt những vấn đề này sẽ đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách thống nhất và nghiêm minh.
- Trong công tác xây dựng ngành, nhất là việc điều động, luân chuyển cán bộ chỉ thực hiện theo yêu cầu trước mắt, chưa thể hiện tầm chiến lược, lâu dài do ảnh hưởng chế độ và thang ngạch, bậc lương của ngành.
- Về cơ sở vật chất và trang thiết bị chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển trong tình hình mới có ảnh hưởng nhất định đến tiến trình đổi mới, kiện toàn công tác xây dựng ngành; trong thời gian gần đây đã có sự chuyển biến tích cực trong chỉ đạo của ngành nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ so với yêu cầu đặt ra.
Những hạn chế nêu trên một phần là do ngành cấp trên chưa tập trung chỉ đạo một cách toàn diện, chưa thường xuyên kiểm tra, đánh giá, uốn nắn kết quả của từng cơ quan, đơn vị; công tác tham mưu, đề xuất về tổ chức cán bộ có lúc, có nơi- nhất là những năm đầu khi mới thành lập của đơn vị còn yếu. Trong nghiên cứu, dự báo và đề xuất những vấn đề mang tính chiến lược, có tầm nhìn lâu dài trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành chưa được thể hiện phương thức, cách làm còn chậm đổi mới so với yêu cầu nên đôi lúc làm hạn chế đến chất lượng và hiệu quả công tác xây dựng ngành hoặc có hiện tượng trông chờ, ỷ lại, dựa vào chỉ đạo của cấp trên mà không chủ động nghiên cứu, đề xuất thực hiện.
Qua hoạt động thực tiễn, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh nhận thấy có một vài kinh nghiệm trong công tác xây dựng ngành, cụ thể như sau:
- Phải luôn bám sát yêu cầu chính trị của địa phương để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành. Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành gắn liền với việc tổ chức thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực có liên quan.
- Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, trung thành, tận tuỵ; Rèn luyện bản lĩnh, tính dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp. Đào tạo cán bộ có trình độ, năng lực nghiệp vụ thực tiễn đi liền với việc củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy để đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ. Nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành đảm bảo cơ chế hoạt động nhịp nhàng có hiệu quả.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của ngành. Gắn công tác xây dựng ngành với công tác xây dựng Đảng. Quán triệt, thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đồng thời chủ động tham mưu cho các cấp uỷ Đảng về tăng cường pháp chế, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các quy chế làm việc, quy chế nghiệp vụ gắn với cải tiến lối làm việc. Thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong ngành. Củng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Cán sự Đảng, xây dựng Đảng bộ cơ quan, Chi bộ ở các đơn vị thật sự trong sạch, vững mạnh.
- Tăng cường phối hợp với các cơ quan hữu quan, đặc biệt là cơ quan bảo vệ pháp luật nhằm thực hiện tốt công tác phòng, chống tội phạm, nhất là tội phạm về an ninh quốc gia, tham nhũng, ma tuý, tội phạm có tổ chức, tội phạm công nghệ cao… có chiều hướng tăng lên và diễn biến phức tạp; kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Hoạt động Kiểm sát phải dựa vào nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, của Mặt trận và các cơ quan đoàn thể ở địa phương. Thường xuyên phối hợp với các cơ quan báo chí để tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật, tạo dư luận xã hội ủng hộ cuộc đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm, xây dựng ngành Kiểm sát trong sạch, vững mạnh.
Để đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế trong tình hình mới, cần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đảm bảo các tiêu chuẩn để xây dựng ngành Kiểm sát trong sạch, vững mạnh. Ngành Kiểm sát Kiên Giang đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp thực hiện ở hai cấp Kiểm sát của tỉnh trong thời gian tới như sau:
- Tiếp tục quán triệt trong toàn thể cán bộ, đảng viên về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ trung thành, tận tuỵ, có bản lĩnh và trách nhiệm trong tình hình mới.
- Đẩy mạnh hoạt động của các đơn vị theo hướng kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng được các yêu cầu mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Để đảm bảo yêu cầu đó cần làm tốt công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ trẻ có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu và năng lực thực tiễn phù hợp với tình hình mới.
- Đổi mới chế độ chính sách đối với cán bộ theo hướng thu hút, đãi ngộ hợp lý và thực hiện đồng bộ đối với các đơn vị, nhất là cấp huyện; có chính sách thoả đáng để cán bộ nâng cao ý thức trách nhiệm, quý trọng nghề nghiệp, say mê công việc, tích cực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.
- Cải cách hành chính tư pháp trong ngành, thực hiện tốt quy tắc ứng xử của cán bộ, Kiểm sát viên trong thực hiện nhiệm vụ, trong quan hệ phối hợp và tiếp xúc với công dân. Tăng cường lãnh đạo giáo dục cán bộ, Kiểm sát viên “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; làm tốt công tác tuyên truyền về chức năng, nhiệm vụ của ngành và kết quả hoạt động để đông đảo cán bộ và nhân dân hiểu biết, tin yêu, ủng hộ ngành.
- Quan tâm đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác cho các đơn vị, nhất là cấp huyện; thực hiện tốt công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và đào tạo nâng cao chất lượng cán bộ đảm bảo hoạt động có hiệu quả.
Trên tinh thần đó, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang mong muốn các đồng chí lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; lãnh đạo Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh tăng cường sự lãnh đạo, kiểm tra; quý vị và nhân dân tỉnh nhà tích cực tham gia giám sát, góp ý, ủng hộ ngành để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị tại địa phương, tiếp tục thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành trong tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế hiện nay.
Trần Ngọc Hải
Viện trưởng VKSND tỉnh Kiên Giang
|